Tầm nhìn biển đảo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Trong bài viết lược thuật này, chúng tôi trân trọng giới thiệu cùng
bạn đọc những chỉ đạo chiến lược của Đại tướng trong giải phóng, xây
dựng và bảo vệ biển, đảo Việt Nam. Tư liệu trong bài được lấy chủ yếu từ
sách “Võ Nguyên Giáp - hào khí trăm năm” do NXB Trẻ phát hành.
Tầm nhìn trong giải phóng các đảo ở Biển Đông
Ngay sau chiến thắng Buôn Ma Thuột tháng 3/1975, Đại tướng Võ Nguyên
Giáp không chỉ nhìn ra thời cơ chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam
mà ông còn nghĩ ngay đến việc giải phóng các hòn đảo trên Biển Đông. Đại
tướng đã kiến nghị với Bộ Chính trị: “Vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến
chiến lược cuối cùng, vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo quân
ngụy đang chiếm giữ”. Kiến nghị này đã được ghi vào Nghị quyết Bộ Chính
trị ngày 25/3/1975.
Cũng từ ngày ấy, Quân ủy Trung ương điều đồng chí Hoàng Trà, Chính ủy
Quân chủng Hải quân về làm việc cạnh Bộ Tổng tham mưu. Đại tướng Võ
Nguyên Giáp cũng yêu cầu Bộ Tổng tham mưu và Bộ Ngoại giao cung cấp tài
liệu về tình hình biển đảo, chỉ đạo Cục Quân báo nắm tình hình quân ngụy
ở Biển Đông để có kế hoạch giải phóng kịp thời.
Khó khăn của ta lúc bấy giờ là lực lượng hải quân còn nhỏ bé, làm thế
nào để hành động thần tốc, táo bạo, bất ngờ trên biển là thách thức lớn.
Ngày 2/4/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ thị cho đồng chí
Lê Trọng Tấn: Phải nắm lực lượng ở Khu 5 và Hải quân để tổ chức tiến
công giải phóng các đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp quan sát Bộ đội Hải quân diễn tập năm 1964. Ảnh tư liệu
Lúc này, ở khu vực Trường Sa có Hạm đội 7 của Mỹ và nhiều nước khác
hoạt động. Hải quân ngụy cũng được trang bị tàu lớn. Do đó, đòi hỏi khâu
tiến công phải hết sức mưu trí, sáng tạo. Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ
thị cho Bộ Tổng tham mưu điều ngay Sở chỉ huy tiền phương của Bộ tư lệnh
Hải quân vào Đà Nẵng, tham gia tiếp quản căn cứ hải quân ngụy mà ta vừa
giải phóng, chuẩn bị sẵn sàng để giải phóng các đảo. Lệnh của Tổng tư
lệnh rất rõ ràng: Khi thấy quân ngụy Sài Gòn nguy khốn thì lập tức tổ
chức đánh chiếm các đảo. Trường hợp nước ngoài thừa cơ quân ngụy khốn
đốn mà đã chiếm đảo, thì ta kiên quyết chiếm lại, gặp khó khăn gì phải
báo cáo Tổng hành dinh.
Trước đó, ngày 30/3/1975, Quân ủy Trung ương đã điện cho các đồng chí
Chu Huy Mân và Võ Chí Công: “Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Thường vụ
giao cho Khu ủy và Bộ tư lệnh B1 nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo, thực hiện
gấp rút nhằm thời cơ thuận lợi nhất đánh chiếm các đảo hiện do quân
ngụy chiếm đóng thuộc quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam”.
Ngày 9/4/1975, quân báo thông báo quân ngụy bắt đầu rút khỏi Biển Đông,
Quân ủy Trung ương đã điện tối khẩn cho đồng chí Chu Huy Mân và đồng
chí Võ Chí Công: “Có tin quân ngụy chuẩn bị rút khỏi Trường Sa. Các anh
cho kiểm tra lại ngay và chỉ thị cho lực lượng ta hành động kịp thời
theo phương án đã định. Nếu để chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước,
vì hiện nay một số nước đang có ý đồ xâm chiếm”.
Nhận được lệnh, các tàu hải quân và lực lượng thuộc Khu 5 đã giả danh
tàu đánh cá, xuất phát ra Trường Sa. Lực lượng ta đã đánh bằng cách của
mình, dùng đặc công bí mật tiếp cận, nhanh chóng đổ bộ, bất ngờ chiếm
mục tiêu, lần lượt giải phóng các đảo. Ngày 14/4/1975, chỉ sau hơn một
giờ chiến đấu, quân ta giải phóng đảo Song Tử Tây. Sau đó, lần lượt các
đảo Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn… đều được giải phóng. Ngày 28/4/1975, đảo
An Bang được thu hồi, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng Trường Sa.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ký điện khen: “Nhiệt liệt khen ngợi các đơn
vị đã hoàn thành nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược”.
Mở đường làm kinh tế biển
Năm 1977, trên cương vị Phó thủ tướng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đề
xuất một chiến lược về khoa học biển và kinh tế miền biển rất ấn tượng.
Nói chuyện với các nhà khoa học, Đại tướng nhấn mạnh: “Chúng ta cần phải
nhanh chóng khắc phục sự lạc hậu trong hiểu biết về biển cả, để góp
phần thúc đẩy việc khai thác tốt hơn những nguồn lợi mà biển cả sẽ đem
lại cho đất nước ta”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (giữa) trên một con tàu hải quân tháng 3/1973. Ảnh tư liệu
Về hướng khai thác kinh tế biển, Đại tướng chỉ ra những vấn đề vượt
thời gian: “Việc khai thác dầu khí ngoài biển Việt Nam đã là chuyện
trước mắt. Việc sử dụng năng lượng thủy triều ở bờ biển nước ta cũng
phải đặt ra rồi. Độ chênh lệch của thủy triều nước ta chứa đựng một tiềm
năng quan trọng về năng lượng là rất quý. Có thể có những kiểu máy điện
thủy triều được không? Các đồng chí vật lý biển phải trả lời vấn đề
này, ngành cơ khí phải đi trước một bước”… “Ngành sinh học biển phải đi
sâu, thúc đẩy phương hướng kinh tế này. Cần phải từ đặc điểm của từng
vùng biển có những điều kiện vật lý như nhiệt độ, độ mặn, ánh sáng chiếu
xuống như thế nào, rồi áp suất sóng, thủy động lực, dòng chảy như thế
nào, để kết luận xem những vùng nào nuôi được loại cá nào là thích hợp
nhất”…
Trong chỉ đạo phát triển kinh tế biển, ngay từ năm 1977, Đại tướng đã
có những chỉ đạo chiến lược rất sâu sắc: Kinh tế vùng biển phải từ đất
liền mà phát triển ra biển và các hải đảo. Đưa dân ra làm kinh tế biển
đảo, vừa cải thiện được đời sống của dân, vừa có lực lượng để thực hiện
quốc phòng toàn dân, để giữ vững chủ quyền biển, đảo.
Năm 1985, trước khi có Đổi mới, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đề ra Chiến
lược làm chủ biển với nội dung toàn diện và cụ thể. Cho đến nay, những
vấn đề đặt ra trong chiến lược này vẫn nóng hổi tính thời sự. Chiến lược
này là minh chứng lịch sử làm sáng rõ tư duy khoa học và tầm nhìn chiến
lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về biển, đảo Tổ quốc.
(Theo petrotimes.vn)